Nhiều người cho rằng chỉ những trường hợp đang cư trú thực tế trên đất mới được bố trí tái định cư. Tuy nhiên, quy định của pháp luật hiện hành không hoàn toàn dựa vào yếu tố "có sinh sống thường xuyên" mà còn căn cứ vào nhiều điều kiện khác liên quan đến quyền sử dụng đất, nhà ở và nơi ở của người bị thu hồi đất. Bài viết dưới đây sẽ phân tích chi tiết quy định của Luật Đất đai hiện hành và các văn bản hướng dẫn để giúp bạn hiểu rõ quyền lợi của mình.
.png)
Khoản 2, Điều 11 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP (hướng dẫn Điều 98 Luật Đất đai 2024 và được sửa đổi bởi điểm a, khoản 2, Điều 7 Nghị định 226/2025/NĐ-CP) quy định về bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở như sau:
Điều 11. Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở quy định tại Điều 98 của Luật Đất đai
[...]
2. Hộ gia đình, cá nhân, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sử dụng đất ở, đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam khi Nhà nước thu hồi đất ở đủ điều kiện được bồi thường về đất thì thực hiện như sau:
a) Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại của thửa đất sau khi thu hồi nhỏ hơn diện tích tối thiểu theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về diện tích tối thiểu tại khoản 2 Điều 220 của Luật Đất đai mà hộ gia đình, cá nhân không còn đất ở, nhà ở nào khác trên địa bàn cấp xã nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc bằng nhà ở tái định cư;
b) Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại của thửa đất sau khi thu hồi nhỏ hơn diện tích tối thiểu theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về diện tích tối thiểu tại khoản 2 Điều 220 của Luật Đất đai mà hộ gia đình, cá nhân còn đất ở, nhà ở khác trên địa bàn cấp xã nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng tiền hoặc bằng đất ở hoặc bằng nhà ở hoặc bằng đất khác nếu địa phương có điều kiện về quỹ đất, quỹ nhà ở.
Ngoài ra:
khoản 8, Điều 111 Luật Đất đai 2024 quy định như sau:
Điều 111. Bố trí tái định cư
[…]
4. Hộ gia đình, cá nhân có đất ở, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức kinh tế đang sử dụng đất ở, đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam khi Nhà nước thu hồi đất, nếu có đủ điều kiện được bồi thường về đất ở theo quy định tại Điều 95 của Luật này thì được bồi thường bằng giao đất ở hoặc nhà ở tại khu tái định cư hoặc tại địa điểm khác phù hợp.
Trường hợp trong hộ gia đình có nhiều thế hệ hoặc có nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống trên một thửa đất ở bị thu hồi nếu đủ điều kiện để tách thành từng hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật về cư trú hoặc có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng 01 thửa đất ở bị thu hồi mà diện tích đất ở được bồi thường không đủ để giao riêng cho từng hộ gia đình thì được xem xét hỗ trợ để giao đất ở có thu tiền sử dụng đất hoặc bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở cho các hộ gia đình còn thiếu.
Như vậy, nếu gia đình bạn bị thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại của thửa đất sau khi thu hồi nhỏ hơn diện tích tối thiểu theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về diện tích tối thiểu tại khoản 2, Điều 220 của Luật Đất đai mà gia đình bạn không còn đất ở, nhà ở nào khác trên địa bàn cấp xã nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc bằng nhà ở tái định cư. Và số suất tái định cư sẽ tương ứng với số cặp vợ chồng đủ điều kiện tách hộ của gia đình bạn.
Việc vợ chồng bạn thường xuyên vắng nhà vì công việc không đồng nghĩa với việc mất quyền được xem xét hỗ trợ tái định cư.
Có thể thấy, không sinh sống thường xuyên trên đất không đồng nghĩa với việc mất quyền được bố trí tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Cơ quan có thẩm quyền sẽ căn cứ vào nhiều yếu tố như loại đất bị thu hồi, quyền sử dụng đất, hiện trạng nhà ở, điều kiện về nơi ở khác và quy định cụ thể của địa phương để quyết định việc bố trí tái định cư.
Do đó, nếu thuộc diện bị thu hồi đất nhưng không thường xuyên cư trú trên thửa đất, bạn cùng gia đình vẫn nên chủ động rà soát hồ sơ pháp lý và đối chiếu với quy định hiện hành để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.