1. Miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt là gì?
Điều 2 Bộ luật Hình sự 2015 quy định rõ: Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự.
Như vậy, việc miễn trách nhiệm hình sự chỉ đặt ra đối với người mà hành vi của họ cấu thành tội mà Bộ luật Hình sự quy định (tức là phạm tội và phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng vì lý do nào đó mà được miễn).
Từ đó, dù Bộ luật Hình sự không có quy định khái niệm cụ thể, nhưng có thể hiểu "Miễn trách nhiệm hình sự" là việc không bắt một người phải chịu trách nhiệm hình sự về tội mà họ đã thực hiện. Về bản chất thì hành vi của người này đã thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội phạm nhưng không phải chịu trách nhiệm hình sự, khi đáp ứng các yêu cầu của luật định.
Tương tự, "miễn hình phạt" có thể hiểu là việc không buộc người phạm tội đã bị kết án phải chịu hình phạt về tội mà họ đã thực hiện. Về bản chất thì người phạm tội đã thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội phạm, phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng được miễn, không phải chịu hình phạt, khi đáp ứng các yêu cầu của luật định.

2. Miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt khác nhau như thế nào?
2.1 Căn cứ được miễn trách nhiệm hình sự
Điều 29 Bộ luật Hình sự 2015 quy định, người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong những căn cứ: (i) Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa; hoặc (ii) Khi có quyết định đại xá.
Bên cạnh đó, người phạm tội "có thể" được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong các căn cứ - tức người có thẩm quyền sẽ xem xét, quyết định:
(i) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.
(ii) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa;
(iii) Trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.
(iv) Người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác, đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả và được người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự.
Như vậy, có thể thấy, việc miễn trách nhiệm hình sự áp dụng đối với người đã bị kết án hoặc người chưa bị kết án (trường hợp đại xá theo quy định tại Điều 29 BLHS 2015).
Thẩm quyền quyết định miễn trách nhiệm hình sự thuộc về cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án, tùy vào giai đoạn tố tụng.
2.2 Căn cứ miễn hình phạt
Điều 59 Bộ luật Hình sự quy định, người phạm tội "có thể" được miễn hình phạt nếu: Thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 54 BLHS 2015 mà đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự.
Trong đó, khoản 1, 2 Điều 54 quy định: (i) Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này. (2) Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.
Bạn còn vướng mắc liên quan hoặc có nhu cầu sử dụng dịch vụ vui lòng liên hệ:
CÔNG TY LUẬT TNHH PHÚC GIA
Trụ sở: Tầng 5 tòa nhà văn phòng số 55 Phố Đỗ Quang, Phường Trung Hòa, Quận Cầu Giấy, Thành Phố Hà Nội.
Hotline: 0243.995.33.99 - 0912.68.99.68
Email: tuvan@luatphucgia.vn