Hợp đồng trao đổi tài sản là một trong những dạng hợp đồng dân sự phổ biến, phản ánh nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận giữa các chủ thể trong giao lưu dân sự. Khác với hợp đồng mua bán tài sản – nơi tài sản được chuyển giao để nhận tiền – hợp đồng trao đổi tài sản là sự thỏa thuận mà theo đó các bên chuyển giao tài sản của mình và nhận lại tài sản khác từ bên kia. Cơ sở pháp lý trực tiếp điều chỉnh loại hợp đồng này được ghi nhận tại Điều 455 Bộ luật Dân sự 2015. Việc nghiên cứu quy định về hợp đồng trao đổi tài sản không chỉ giúp làm rõ bản chất pháp lý, quyền và nghĩa vụ của các bên mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc hạn chế tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý trong các giao dịch dân sự hiện nay.

CĂN CỨ PHÁP LÝ
Hợp đồng trao đổi tài sản được quy định tại mục 2 Chương XIV BLDS 2015 gồm 02 điều là Điều 455 và Điều 456; ngoài ra, quy định về hợp đồng trao đổi tài sản cũng được điều chỉnh bởi một số quy định khác có liên quan trong BLDS 2015.
Điều 455 BLDS 2015 quy định
“1. Hợp đồng trao đổi tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó các bên giao tài sản và chuyển quyền sở hữu đối với tài sản cho nhau.
2. Hợp đồng trao đổi tài sản phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực hoặc đăng ký, nếu pháp luật có quy định.
3. Trường hợp một bên trao đổi cho bên kia tài sản không thuộc quyền sở hữu của mình hoặc không được chủ sở hữu ủy quyền thì bên kia có quyền hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
4. Mỗi bên đều được coi là người bán đối với tài sản giao cho bên kia và là người mua đối với tài sản nhận về. Các quy định về hợp đồng mua bán từ Điều 430 đến Điều 439, từ Điều 441 đến Điều 449 và Điều 454 của Bộ luật này cũng được áp dụng đối với hợp đồng trao đổi tài sản”.
Như vậy, có thể hiểu, hợp đồng trao đổi tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó, các bên thống nhất việc dùng tài sản của mình để trao đổi với tài sản của người khác, đồng nghĩa với việc chuyển quyền sở hữu tài sản cho nhau.
ĐẶC ĐIỂM HỢP ĐỒNG TRAO ĐỔI TÀI SẢN
– Là hợp đồng có đền bù.
Hợp đồng trao đổi tài sản mang tính chất của hợp đồng mua bán tài sản nhưng trong đó các bên thực hiện phương thức vật đổi vật. Tính đền bù của hợp đồng này thể hiện ở chỗ, mỗi bên đều nhận được một lợi ích là tài sản và đều phải giao lại cho bên kia một tài sản khác. Nếu tài sản trao đổi chênh lệch về giá trị thì các bên phải thanh toán cho nhau phần chênh lệch đó, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
– Luôn là hợp đồng song vụ.
Mỗi bên trong hợp đồng trao đổi tài sản đều có nghĩa vụ giao cho bên kia một tài sản nhất định mà các bên đã thỏa thuận.
– Có thể là hợp đồng ưng thuận, có thể là hợp đồng thực tế.
Nếu các bên không có thỏa thuận khác về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng trao đổi tài sản thì hợp đồng này có hiệu lực vào thời điểm giao kết và theo đó, hợp đồng trao đổi tài sản sẽ là một hợp đồng ưng thuận. Nếu các bên thỏa thuận hợp đồng chỉ có hiệu lực khi các bên đã chuyển giao tài sản cho nhau thì hợp đồng trao đổi tài sản là một hợp đồng thực tế.
HÌNH THỨC HỢP ĐỒNG TRAO ĐỔI TÀI SẢN
Hợp đồng trao đổi tài sản lập thành văn bản cần phải có công chứng hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền hoặc đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nếu tài sản trao đổi là tài sản có đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng nhất thiết phải có chứng nhận, chứng thực hoặc phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong trường hợp này, các bên phải tuân theo đúng các quy định về hình thức, thủ tục.
Muốn thực hiện quan hệ trao đổi tài sản thì trước hết, mỗi bên trong hợp đồng phải là chủ sở hữu hợp pháp của tài sản đem trao đổi hoặc phải là người có quyền định đoạt đối với tài sản đó. Trao đổi tài sản với người khác tức là đã thực hiện việc định đoạt số phận pháp lý đối với tài sản đó mà về nguyên tắc, chỉ có chủ sở hữu hợp pháp của tài sản hay người được chủ sở hữu ủy quyền hoặc người khác theo quy định của pháp luật mới được quyền thực hiện quyền năng định đoạt đó đối với tài sản. Trong trường hợp một bên trao đổi cho bên kia tài sản không thuộc quyền sở hữu của mình hoặc không được chủ sở hữu ủy quyền, thì bên kia có quyền hủy bỏ hợp dồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại. Nếu một bên trao đổi tài sản mà không biết và không thể biết (pháp luật không buộc phải biết) tài sản đó không thuộc sở hữu của mình và sau đó, chủ sở hữu hợp pháp của tài sản phát hiện ra nhưng đã chấp thuận để cho bên trao đổi tài sản đó (tức là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình) bồi thường thiệt hại giá trị của tài sản, không kiện đòi lại tài sản đó nữa thì khi đó, quan hệ trao đổi tài sản đã thiết lập vẫn có hiệu lực.
– Hợp đồng trao đổi tài sản có nhiều điểm giống hợp đồng mua bán tài sản. Do đó, khoản 4 Điều 455 BLDS 2015 đã quy định mỗi bên đều được coi là người bán đối với tài sản giao cho bên kia và là người mua đối với tài sản nhận về. Các điều từ Điều 430 đến Điều 4339 và từ Điều 441 đến Điều 449 và Điều 554 BLDS 2015 cũng được áp dụng tương tự đối với hợp đồng trao đổi tài sản. Như vậy là, những quy định đặc trưng khác chỉ đúng với hợp đồng mua bán tài sản không được áp dụng đối với hợp đồng trao đổi tài sản trừ trường hợp thanh toán phần chênh lệch về giá trị của tài sản theo quy định Điều 456 BLDS 2015.
MỘT SỐ ĐIỂM CẦN LƯU Ý ĐỐI VỚI HỢP ĐỒNG TRAO ĐỔI TÀI SẢN TRONG BLDS 2015
Thứ nhất, về tài sản dùng để trao đổi: BLDS 2015 quy định, tài sản dùng để trao đổi phải thuộc quyền sở hữu của hai bên tham gia quan hệ trao đổi tài sản này. Trường hợp một trong hai bên tham gia hợp đồng trao đổi tài sản không thuộc quyền sở hữu của mình vẫn được coi là hợp pháp khi được chủ sở hữu thực sự của tài sản đó ủy quyền để thực hiện việc trao đổi tài sản. Như vậy, đối với hợp đồng trao đổi tài sản thì việc xác định quyền sở hữu đối với tài sản đem trao đổi của các bên tham gia giao dịch là rất quan trọng, bảo đảm tính hợp pháp của giao dịch này. Trường hợp xác định được một trong hai bên tham gia hợp đồng trao đổi tài sản không phải chủ sở hữu hợp pháp của tài sản đem trao đổi hoặc không được chủ sở hữu hợp pháp ủy quyền thì bên còn lại có quyền hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. Quy định này nhằm bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao dịch và bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của người thứ ba (nếu có).
Hợp đồng trao đổi tài sản có mục đích là chuyển giao quyền sở hữu tài sản. Thông thường, hợp đồng mua bán tài sản, các bên dùng tiền để đổi lấy tài sản; còn hợp đồng trao đổi tài sản là dùng tài sản đổi tài sản. Đối với tài sản là vật trong hợp đồng trao đổi thì thường là vật đặc định mà không phải vật cùng loại vì sẽ không có ý nghĩa gì nếu các bên trao đổi vật cùng loại với nhau. Liên quan đến tài sản là tiền, có quan điểm cho rằng, tiền không thể là đối tượng của hợp đồng trao đổi vì tiền luôn được coi là công cụ định giá các loại tài sản khác và không ai mang tiền đổi lấy tiền. Tác giả cho rằng, quan điểm này không chính xác, bởi lẽ, khoản 1 Điều 455 quy định rất rõ “các bên giao tài sản và chuyển quyền sở hữu đối với tài sản cho nhau” mà không có quy định giới hạn trao đổi đối với bất kỳ loại tài sản nào. Đồng thời, trên thực tế, vẫn thường xuất hiện việc mang Việt Nam đồng đi đổi ngoại tệ (chủ yếu là đổi lấy đô la); bản chất của hoạt động này chính là hợp đồng trao đổi tài sản mà đối tượng trao đổi là tiền (trao đổi nội tệ với ngoại tệ).
Thứ hai, hợp đồng trao đổi tài sản là hợp đồng song vụ, theo đó: Mỗi bên trong hợp đồng trao đổi tài sản đều có nghĩa vụ giao cho bên kia một tài sản nhất định mà các bên đã thỏa thuận. Các bên có quyền yêu cầu bên kia chuyển vật và làm thủ tục chuyển quyền sở hữu nếu tài sản phải đăng ký quyền sở hữu. Hợp đồng trao đổi tài sản cũng là một hợp đồng có đền bù, theo đó: Tính đền bù của hợp đồng này thể hiện ở chỗ, mồi bên đều nhận được một lợi ích là tài sản và đều phải giao lại cho bên kia một tài sản khác. Nếu tài sản trao đổi chênh lệch về giá trị thì các bên phải thanh toán cho nhau phần chênh lệch đó, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Đồng thời, một lưu ý khác là: hợp đồng trao đổi tài sản có thể là hợp đồng ưng thuận, có thê là hợp đồng thực tế, cụ thể: Nếu các bên không có thỏa thuận khác về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng trao đổi tài sản thì hợp đồng này có hiệu lực vào thời điểm giao kết và theo đó, hợp đồng trao đổi tài sản sẽ là một hợp đồng ưng thuận. Nếu các bên thỏa thuận hợp đồng chỉ có hiệu lực khi các bên đã chuyển giao tài sản cho nhau thì hợp đồng trao đổi tài sản là một hợp đồng thực tế.
Thứ ba, về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng. Trong hợp đồng trao đổi tài sản, mỗi bên đều được coi là người bán và người mua. Do vậy, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong mối quan hệ được xác định theo hợp đồng mua bán tài sản.
DỊCH VỤ PHÁP LÝ TẠI LUẬT PHÚC GIA
1. Dịch vụ luật sư tham gia tố tụng: Luật sư Hình sự, Luật sư Dân sự, Luật sư kinh doanh thương mại….
2. Dịch vụ luật sư đại diện ngoài tố tụng:
3. Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật
4. Dịch vụ pháp lý khác
VÌ SAO CHỌN LUẬT PHÚC GIA?
- Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm: Chuyên môn sâu rộng, tận tâm với khách hàng.
- Giải pháp linh hoạt & tối ưu: Mỗi khách hàng có một chiến lược pháp lý riêng biệt.
- Bảo mật tuyệt đối: Cam kết giữ kín mọi thông tin của khách hàng.
Hãy để chúng tôi đồng hành cùng bạn trên mọi chặng đường pháp lý!
CÔNG TY LUẬT TNHH PHÚC GIA
Trụ sở: Tầng 5 tòa nhà văn phòng Số 55, phố Đỗ Quang, Phường Yên Hòa, TP Hà Nội, Việt Nam
Hotline: 0243.995.33.99 - 0912.68.99.68
Email nhận tư vấn: tuvan@luatphucgia.vn
Website: luatphucgia.vn